Có ý kiến cho rằng: “Sóng đã thể hiện tình yêu truyền thống như tình yêu muôn đời”. Ý kiến khác lại khẳng định: “Sóng đã thể hiện tình yêu hiện đại như tình yêu hôm nay”. Ý kiến của anh chị.

0
Sóng đã thể hiện tình yêu truyền thống như tình yêu muôn đời hay tình yêu hiện đại - Sóng - Xuân Quỳnh

Có ý kiến cho rằng: “Sóng đã thể hiện tình yêu truyền thống như tình yêu muôn đời”. Ý kiến khác lại khẳng định: “Sóng đã thể hiện tình yêu hiện đại như tình yêu hôm nay”. Ý kiến của anh chị.

Bài làm

Sóng không chỉ là tên một thi phẩm đã gây xốn xang cho nhiều thế hệ. Sóng không chỉ là biểu trưng cho một hồn yêu chưa từng nguôi yên. Sóng còn là một nguồn sống, nguồn năng lượng mà nữ thi sĩ ấy đã truyền lại cho mai hậu qua mỗi tiếng thơ mình. Tình yêu trong từng câu thơ là tình yêu của một người, mà cũng là của mọi người, là tình yêu của một thời mà cũng là của mọi thời. Vì thế có ý kiến cho rằng:

“Sóng đã thể hiện tình yêu truyền thống như tình yêu muôn đời”.

Ý kiến khác lại khẳng định:

“Sóng đã thể hiện tình yêu hiện đại như tình yêu hôm nay”.

Về ý kiến thứ nhất, “tình yêu truyền thống như tình yêu muôn đời” là tình yêu gắn với những cung bậc cảm xúc quen thuộc, phổ biến, những trạng thái đã trở thành quy luật muôn đời. Còn “tình yêu hiện đại như tình yêu hôm nay” trong ý kiến thứ hai chính là khẳng định cái nhìn mang tính mới mẻ, phát hiện về tình yêu của Xuân Quỳnh. Hai ý kiến là những cách nhìn riêng về những khía cạnh khác nhau về nội dung của tác phẩm.

Không còn phân biệt được sóng tạo nên Xuân Quỳnh, hay Xuân Quỳnh đã tạo nên sóng. Chỉ biết rằng người con gái ấy sinh ra là để dành cho thơ. Thơ ca, với Xuân Quỳnh, gắn liền với sự sống, tình yêu; làm thơ là nữ sĩ được sống với chính mình, sống đủ đầy trọn vẹn là mình. Mỗi bài thơ đều là tiếng nói chân thành nhất của một tâm hồn phụ nữ giàu trắc ẩn, vừa âu lo vừa da diết trong khát vọng hạnh phúc đời thường. Bài thơ “Sóng” được viết năm 1967 trong chuyến đi thực tế ở biển Diêm Điền (Thái Bình), là tiếng thơ của những ngọt ngào, đắng cay từng trải trong tình yêu, khi đã vun đắp và trải nghiệm sự tan vỡ trong tình yêu mà vẫn thật tha thiết, tràn đầy khát vọng. Bài thơ có sự song hành hình tượng giữa “sóng” và “em”: “Sóng” và “em” có lúc tách ra để soi chiếu vào nhau, có lúc lại hòa hợp thống nhất. Sóng biển và sóng lòng, sóng nước và sóng tình ẩn hiện, đan nguyên vào nhau tạo ra những cảm xúc mới mẻ. Bởi thế, sóng có thể nói là một ẩn dụ không hoàn toàn cho em, cho vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu và trong cuộc sống.

Sóng đã thể hiện tình yêu truyền thống như tình yêu muôn đời hay tình yêu hiện đại - Sóng - Xuân Quỳnh
Cô gái trong bài thơ sóng vừa nhẹ nhàng, nhưng vừa mạnh mẽ

Trước hết, sóng đã thể hiện “tình yêu truyền thống như tình yêu muôn đời”.

Đó là những cung bậc vừa thống nhất lại vừa đối lập:

  • “Dữ dội và dịu êm
  • Ồn ào và lặng lẽ”

Trong người phụ nữ, luôn tồn tại những trạng thái đối cực. Hai câu thơ có thể đúng với bao người nhưng nó không phải là lời của một nhà nghiên cứu trong tình yêu đứng ngoài nhìn vào. Nó được viết ra trước hết là một lời tự thú chân thành và tự nhiên đến độ khiến ta phải ngỡ ngàng: thì ra, trái tìm của người phụ nữ luôn có những đối cực như thế: “dữ dội” – “dịu êm”, “ồn ào” – “lặng lẽ”. Nhà thơ đặt liên từ “và” – không phải bức tường ngăn cách mà là sự kết hợp, chuyển hóa. Người phụ nữ có thể ồn ào, dữ dội nhưng cuối cùng cũng là sự trở về của thiên tính nữ: dịu êm, lặng lẽ. Đó chính là sự hiện diện của cái “tôi” Xuân Quỳnh. Như vậy, tình yêu không bao giờ là trạng thái tâm lí tuần nhất mà là sự hòa kết của những trạng thái khác nhau, thậm chí là đối lập như những nốt thăng, trầm làm nên bản tình ca đôi lứa.

Xem thêm:  “Xét cho cùng ý nghĩa thực sự của văn học là nhân đạo hóa con người”. Chứng minh bằng những dẫn chứng văn học cụ thể?

Đó là những khát vọng tình yêu, sự trẻ trung của con người trong tình yêu và sự trẻ trung không thể cắt nghĩa, lí giải được:

  • “Ôi con sóng ngày xưa
  • Và ngày sau vẫn thế
  • Nỗi khát vọng tình yêu
  • Bồi hồi trong ngực trẻ
  • Trước muôn trùng sóng bể
  • Em nghĩ về anh, em
  • Em nghĩ về biển lớn
  • Từ nơi nào sóng lên?
  • – Sóng bắt đầu từ gió
  • Gió bắt đầu từ đâu?
  • Em cũng không biết nữa
  • Khi nào ta yêu nhau”

Đối với người phụ nữ, tình yêu không có tuổi: “ngày xưa”, “ngày sau” vẫn thế, “nỗi khát vọng tình yêu/ bồi hồi trong ngực trẻ”. Tuy vậy, họ vẫn luôn khao khát muốn được kiếm tìm về nguồn cội của tình yêu. Câu hỏi tu từ “Từ nơi nào sóng lên?” với lời đáp thật dễ dàng, chóng vánh: “Sóng bắt đầu từ gió”. Câu hỏi thứ hai ráo riết hơn, lí trí muốn đẩy những băn khoăn đến tột cùng: “Gió bắt đầu từ đâu?”. Những câu hỏi tu từ lúc ẩn duối chân sóng, lúc lại trào lên đầu ngọn sóng như những trăn trở. Nhân vật trữ tình không cảm nhận về sóng mà nghĩ về sóng. Nương theo những con sóng, nhà thơ bắt đầu hành trình tìm kiếm nơi khởi nguồn tình yêu và phân tích, lí giải bản chất của tình yêu. Đó cũng là mong muốn muôn đời của biết bao đôi lứa. Câu trả lời vừa là sự thú nhận, vừa là sự thức nhận: “Em cũng không biết nữa/ Khi nào ta yêu nhau”. Đó là cái lắc đầu biểu thị một tâm lí rất phụ nữ: không ham rạch ròi dẫu trong lòng còn bao nhiêu bức xúc “đòi tìm ra tận bể” để hiểu, để nghĩ. Nó là bức xúc của tình cảm hơn là bức xúc của trí tuệ. Phải chăng ở trong đời, “phái yếu” không mong gì hơn một mái ấm yên vui, một gia đình hạnh phúc? Ít nhất, với Xuân Quỳnh là như vậy.

Đó là những sắc thái muôn thuở của tình yêu:

  • “Con sóng dưới lòng sâu
  • Con sóng trên mặt nước
  • Ôi con sóng nhớ bờ
  • Ngày đêm không ngủ được
  • (…)
  • Dẫu xuôi về phương bắc
  • Dẫu ngược về phương nam
  • Nơi nào em cũng nghĩ
  • Hướng về anh – một phương”

Điệp từ “sóng” liên tiếp làm cho những con sóng nhớ thương như đang trào dâng dào dạt khỏi bề mặt con chữ, vừa gợi cái sôi trào mà miên man, sâu lắng của nỗi nhớ. Nỗi nhớ đầy ắp không gian: “dưới lòng sâu”, “trên mặt nước”, tràn ngập thời gian “ngày đêm”. Từ nỗi nhớ “bồi hổi bồi hồi” trong ca dạo đến nỗi nhớ thiết tha của Xuân Diệu: “Anh nhớ tiếng, anh nhớ hình, anh nhớ ảnh”, nỗi nhớ đến ngẩn ngơ của Hàn Mặc Tử: “Người đi một nửa hồn tôi mất/ Một nửa hồn tôi hóa dại khờ”,… Và cả tấm lòng son sắt thủy chung không đổi trong khổ dưới. Trong khổ thơ, ta đã thấy sự khác biệt so với cách diễn đạt thông thường, không phải là ngược Bắc xuôi Nam mà là “xuôi Bắc ngược Nam”. Sự khác biệt hé lộ một tình yêu trắc trở, gian nan. Nhưng đối với Xuân Quỳnh, dù có xáo trộn xuôi – ngược thì điều đó cũng chẳng có gì quan trọng. Quang trọng nhất chỉ là “phương anh”. Nếu khổ thơ trên, nữ sĩ soi vào sóng để nhận ra mình thì ở đây, nhà thơ nhìn sâu vào mình để nhìn vào quy luật sóng: sóng hướng về bờ thì cuộc đời em duy nhất chỉ hướng về anh. Tất cả những trạng thái ấy là những cung bậc nổi bật trong tình yêu.

Xem thêm:  Suy nghĩ về câu “nếu chịu khó suy nghĩ kĩ thì ta sẽ nhận ra…. cuộc sống”

Nhưng sóng còn là hình ảnh của “tình yêu hiện đại như tình yêu hôm nay”.

Đó là vẻ đẹp của sự vận chủ động táo bạo trong hành trình dấn thân tìm kiếm tình yêu:

  • “Sông không hiểu nổi mình
  • Sóng tìm ra tận bể”

Người phụ nữ luôn hướng tìm tới tự do. Khám phá những không gian tồn tại của sóng, Xuân Quỳnh phát hiện ra: hành trình của sóng từ sông ra biển cũng là hành trình con người đến với tình yêu: phải biết vượt qua những giới hạn bản thân chật hẹp để hòa nhập vào biển đời rộng lớn, kiếm tìm hạnh phúc. Đó là hành trình dấn thân tự nguyên, say mê để tìm đến hạnh phúc và sống trọn vẹn.

Đó còn là sự mãnh liệt trong nỗi nhớ, trong sự bày tỏ tâm hồn, tình cảm trong tình yêu:

  • “Lòng em nhớ đến anh
  • Cả trong mơ còn thức”

Nỗi nhớ của người con gái ấy cồn cào, da diết đến nỗi những con sóng kia cũng chẳng thể diễn tả hết mà tự em phải giãi bày. Hai câu thơ cuối như con sóng xuyên qua cả cõi thực, cõi mộng. Không chỉ ở ý thức mà còn lắng sâu vào tiềm thức để hiện ra trong giấc mơ. Cái dào dạt nhớ nhung khiến cảm xúc tràn bờ mà kéo dung lượng ra 6 câu để biểu đạt. Cảm xúc ấy có gì giống khi Xuân Quỳnh viết “Tự hát”:

  • “Em trở về đúng nghĩa trái-tim-em
  • Là máu thịt, đời thường ai chẳng có
  • Cũng ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa
  • Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi”

Nỗi nhớ “cả trong mơ cònthức” hay “biết yêu anh cả khi chết đi rồi” rất đậm chất Xuân Quỳnh: mãnh liệt mà đằm thắm, táo bạo, giàu nữ tình. Xuân Quỳnh là thế: bao giờ cũng dám sống thật với mình, thật với cảm xúc của chính mình.

Đó còn là một trái tim đa cảm, giàu trắc ẩn, vừa âu lo vừa tràn đầy niềm tin, khát vọng:

  • “Ở ngoài kia đại dương
  • Trăm nghìn con sóng đó
  • Con nào chẳng tới bờ
  • Dù muôn vời cách trở
  • Cuộc đời đi dài thế
  • Năm tháng vẫn đi qua
  • Như biển kia dẫu rộng
  • Mây vẫn bay về xa
  • Làm sao được tan ra
  • Thành trăm con sóng nhỏ
  • Giữa biển lớn tình yêu
  • Ðể ngàn năm còn vỗ.”
Xem thêm:  Phân tích một đoạn thơ mà theo anh chị cho là“đậm đà màu sắc dân tộc” trong bài thơ Việt Bắc

Với trái tim đa cảm và tâm hồn giàu trắc ẩn, nhạy cảm trước sự chảy trôi của thời gian và lòng người, người phụ nữ thường có những lo âu về những điều bất trắc: “Em đâu dám nghĩ là vĩnh viễn”. Nỗi khắc khoải ấy hiện hiện hình khi nhận ra quy luật cuộc sống: “Cuộc đời tuy dài thế/ Năm tháng vẫn đi qua”, “Mây vẫn bay về xa”. Cuộc đời dài rộng vẫn có điểm kết vậy tình yêu kia có thể bất biến giữa thời gian? Nhưng cuối cùng, người con gái vẫn chọn trao niềm tin trọn vẹn. Cặp quan hệ từ “tuy – vẫn” mang sắc thái khẳng định khiến nỗi lo kia chỉ như thoáng qua rồi lại tan biến vào trong những đợt sóng, chỉ còn niềm tin ở lại làm điểm tựa cho tâm hồn. “Con nào chẳng tới bờ/ Dù muôn vời cách trở”. Niềm tin ấy không phải sự ảo tưởng, bồng bột mà là sự thức tỉnh chân lí đời sống nên nó trọn vẹn và tha thiết. Cuối cùng, sóng là hình ảnh của những khát vọng người phụ nữ. “Tan ra”- đó là khát vọng được hóa thân vào sóng để được tồn tại trong không gian rộng lớn của biển cả và cái vĩnh hằng của thời gian. Đó là khát vọng vĩnh viễn hóa tình yêu, dùng tình yêu để nối dài cuộc đời ngắn ngủi của con người. Khát vọng ấy lại làm ta nhớ tới câu chuyện nàng tiên cá hóa thân làm bọt biển để người mình yêu được hạnh phúc trọn vẹn. Phải chăng đó là bản tính hi sinh và dâng hiến của người phụ nữ? Mở đầu bài thơ là khát vọng được làm rõ mình, kết thúc lại bằng khát vọng được hòa mình của người phụ nữ.

Như vậy, hai ý kiến vẫn chưa thật toàn diện, chúng bổ sung cho nhau để đánh giá về nội dung bài thơ: vẻ đẹp hình tượng “sóng” và các cung bậc, trạng thái trong “Sóng”. Điều đó được thể hiện thành công qua những câu thơ mang đậm dấu ấn hồn thơ Xuân Quỳnh. Sóng không được vẽ ra bằng hình ảnh, đường nét mà bằng âm điệu độc đáo, thể thơ 5 chữ, lối gieo vần gián cách, ngắt nhịp linh hoạt gợi ra hình ảnh những con sóng cao thấp liên tiếp. Cách tổ chức ngôn từ theo nguyên tắc: hô ứng tương xứng, trùng điệp, gợi cái dào dạt, sôi trào mà miên man sâu lắng.

Xin mượn lời khẳng định của nhà phê bình Chu Văn Sơn thay cho lời kết: “Giờ đây, đặt chân dung nữ thi sĩ Xuân Quỳnh vào dòng thời gian, thì không chỉ đặt chị vào vị trí đầu của top thi sĩ cùng thời Ý Nhi, Lâm Thị Mỹ Dạ, Phan Thị Thanh Nhàn, Nhã Ca… Mà theo trục dọc, phải đặt chị trong cái mạch thưa thớt những nữ sĩ xuất chúng của thơ Việt như Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan… Xuân Quỳnh thực là một trong những gương mặt nữ sáng giá nhất của thơ Việt. Có lẽ vị trí ấy mới là điều công chúng nghệ thuật Việt hôm qua và hôm nay muốn dành cho nữ thi sĩ này.”

Đánh giá bài viết

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *