Phân tích bài thơ Lưu Biệt Khi Xuất Dương

0

Đề bài: Phân tích bài thơ “Lưu biệt khi xuất dương” của Phan Bội Châu

Bài làm

Trong giai đoạn những năm đầu thế kỉ XX, phong trào giải phóng dân tộc được dấy lên mạnh mẽ với những tên tuổi nổi bật như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh.. Họ là những trí thức tiến bộ với lòng yêu nước thiết tha. Phan Bội Châu không chỉ là một nhà yêu nước mà còn là một nhà thơ nổi tiếng. Bài thơ “Lưu biệt khi xuất dương” là một sáng tác hay thể hiện tinh thần và khí thế sục sôi trên con đường tìm ra hướng đi mới cho dân tộc.

Khi cả nước đang dấy lên phong trào Đông du thì “Lưu biệt khi xuất dương” không chỉ góp phần cổ vũ, khích lệ tinh thần của các du học sinh mà còn thể hiện ý chí cao độ của những người yêu nước đang cố gắng vươn lên để đưa đất nước thoát khỏi sự cai trị của thực dân phong kiến. Bài thơ là khúc ca hào hùng của những nhà tri thức tri thức tiến bộ.

Mở đầu tác phẩm là một tuyên ngôn đanh thép về “chí làm trai”.

Sinh vi nam tử yếu hi kì

Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di

Dịch thơ:

Làm trai phải lạ ở trên đời

Há để càn khôn tự chuyển dời

phan tich bai tho luu biet khi xuat duong - Phân tích bài thơ Lưu Biệt Khi Xuất Dương

Phân tích bài thơ Lưu Biệt Khi Xuất Dương

Trong tuyên ngôn ấy đã khẳng định rõ lẽ sống và lí tưởng làm người, đặc biệt là một đấng nam nhi, đã là nam nhi thì phải đầu đội trời, chân đạp đất, tự chủ trong bước đi của mình và tự quyết định tương lai của chính mình. Điều đó cũng có nghĩa rằng, một đấng nam nhi phải bước vươn lên, kiên cường để đưa dân tộc, đất nước mình đứng lên, vượt lên trên cả sự xâm lược, bạo hành mà trở thành một đất nước tự do, tự quyết. Người nam nhi trong cuộc sống phải dám làm những điều “kì lạ”, dám bước đi trên những con đường mới với những hy vọng và ước mơ lớn lao. Chí làm trai là phải mang trong mình cái “nợ công danh” như Phạm Ngũ Lão đã thể hiện qua “Tỏ lòng”. Khi mà đất nước vẫn chưa được thái bình, nhân dân vẫn phải sống trong cảnh lầm than, áp bức thì người nam nhi vẫn chưa xứng đáng với lý tưởng sống, vẫn mang cái nợ với đời. Họ phải tự mình bước đi, phải thay đổi cuộc sống, không được phó thác vào số phận. Muốn được như vậy, đấng nam nhi phải có cái nhìn xa rộng và có những hoài bão lớn lao, sống một cuộc đời không mang hai chữ “tầm thường”.

Xem thêm:  Phân tích câu nói Không có gì thuộc về con người mà xa lạ với tôi

Tiếp nối lý tưởng ấy, là sự tự khẳng định mình.

U bách niên trung tu hữa ngã

Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy

Dịch thơ:

Trong khoảng trăm năm cần có tớ

Sau này muôn thuở há không ai?

Một lời khẳng định có phần tự cao nhưng nó lại là tiếng nói đầy quyết liệt và oai hùng về vai trò của cá nhân đối với cuộc sống nhất là khi đất nước đang phải sống trong cảnh lầm than, loạn lạc. Trong thời điểm ấy vai trò của cá nhân ông, cũng như của những cá nhân khác rất được đề cao. Nếu mỗi cá nhân đều tự ý thức được điều này thì họ sẽ tạo nên được một sức mạnh vô cùng lớn. Mỗi một đời người được ví với trăm năm, và trong khoảng thời gian nghìn năm thì chắc chắn sẽ có những cá nhân nổi bật giữa đời. Ngoài sự khẳng định, nhà thơ qua hai câu thơ ấy muốn khích lệ ý chí và lòng yêu nước ở mỗi người đặc biệt là những nhà trí thức, những du học sinh chuẩn bị “xuất dương” để tìm hướng đi mới cho dân tộc. Nó làm cho tinh thần dân tộc ngày càng sục sôi và quyết liệt hơn.

Những triết lí về cuộc sống, về lý tưởng làm trai càng được thể hiện rõ ràng qua hai câu thơ luận.

Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế

Hiền thánh lưu nhiên tụng diệc si

Dịch thơ:

Xem thêm:  Cảm nhận về hình tượng nhân vật Huấn Cao

Non sông đã mất sống thêm nhục

Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài

Cũng giống như chí làm trai của Phạm Ngũ Lão, “Lưu biệt khi xuất dương” cũng thể hiện rõ quan niệm trung quân ái quốc. Khi đất nước vẫn đang còn phải chịu sự chèn ép, bóc lột và mất tự do thì kẻ nam nhi cũng cảm thấy nhục nhã với chính mình. Trách nhiệm của họ đối với đất nước vẫn chưa hoàn thành, họ sống cũng như không, giống như những kẻ tầm thường, vô dụng. Trong thời buổi đất nước loạn lạc, văn chương chữ nghĩa cũng đâu còn quan trọng. Không phải nhà thơ chê bai hay phủ nhận tri thức mà người muốn rằng học thức cũng nên phù hợp với thời cuộc và phải biết phục vụ nhân dân. Nước mà mất thì người tri thức cũng trở thành người thừa, cũng chẳng còn chỗ để mà thể hiện thánh hiền khi bản thân phải sống trong cảnh nô lệ. Vậy nên, điều cần lần làm trên hết là tìm ra con đường để mang tự do về cho dân tộc rồi sau đó sẽ tha hồ mà học và truyền tải kiến thức văn chương thánh hiền.

Và ở hai câu kết, chí làm trai được đặt vào hoàn cảnh cụ thể.

Nguyện trục trường phong Đông hải khứ

Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi

Dịch thơ:

Muốn vượt bể Đông theo cánh gió

Muôn trùng sóng bạc tiến ra khơi

Trong hoàn cảnh thực tế của buổi lưu biệt khi xuất dương của những du học sinh yêu nước, Phan Bội Châu đã vẽ lên một bước đi đầy hào hùng và mạnh mẽ. Khí thế ấy là sức mạnh của những đấng nam nhi đang ra đi tìm đường cứu nước. Ta cảm nhận được một bầu không khí sục sôi đang dâng trào tròng lòng mỗi người. Họ ra đi cùng sự cổ vũ và tiếp sức của sóng biển. Một bước đi đầy mạnh mẽ và oai hùng cùng ý chí cao ngất ngưởng và lòng lòng quyết tâm vô hạn.

Xem thêm:  Suy nghĩ của anh chị về trang phục

Bài thơ “Lưu biệt khi xuát dương” của Phan Bội Châu không chỉ ngợi ca tinh thần yêu nước và ý chí sục sôi của những tri thức trẻ của phong trào Đông du mà nó còn là khúc ca hào hùng cổ vũ tinh thần yêu nước của nhân dân, đặc biệt là thế hệ tri thức trẻ. Bài thơ là khúc ca đầy khí phách và là ngọn cờ tiên phong cho phong trào yêu nước của những con người tiến bộ. Nó mãi để lại trong lòng người đọc một sự tự hào và ngưỡng mộ về tinh thần yêu nước nồng nàn của những người anh hùng trong một thời loạn lạc.

Seen

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *